Vay tiền không trả phạm tội gì?

Hiện nay, số vụ tranh chấp do vay mượn tiền, tài sản rất phổ biến. Nguyên nhân có thể là do trường hợp bất khả kháng người vay không đủ khả năng để thanh toán do vỡ nợ, phá sản. Nhưng cũng có thể là do sự gian dối, lừa đảo, cố tình không trả để chiếm đoạt tài sản của người khác.

Vậy đối với những trường hợp vay tiền không trả phạm tội gì? Đây là câu hỏi mà những người đi vay tiền cũng như những người cho vay tiền cần phải nắm rõ để có thể có cách giải quyết đúng đắn khi không may rơi vào tình huống tranh chấp tài sản.

Bài viết này sẽ đưa ra hai trường hợp khi vay tiền mà không trả đó là cố tình không trả nợ và không có khả năng trả nợ. Đi cùng với đó là những hình thức xử phạt đối với từng trường hợp vi phạm.

Trường hợp thứ nhất: cố tình không trả nợ

Như thế nào được gọi là cố tình không trả nợ? Cố tình không trả nợ có nghĩa là người đi vay không thanh toán nợ cho chủ nợ khi đến hạn thanh toán trong đó người đi vay có khả năng trả nợ. Có khả năng trả nợ ở đây có nghĩa là vẫn còn sổ tiết kiệm, còn nhà cửa,đất đai, còn xe cộ…để chủ nợ xiết nợ nhưng cố chấp, cố tình không trả nợ. Trong trường hợp này, ta cần nắm được hai điều khoản sau đây:

Theo quy định tại khoản 1 điều 466 Luật dân sự 2015 như sau: “Bên đi vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến kỳ hạn thanh toán; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ khi có thỏa thuận khác”.

Theo khoản 1 Điều 351 Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện sai nội dung của nghĩa vụ”.

Như vậy, nếu như trong trường hợp đến kỳ hạn phải thanh toán nợ và bên đi vay có khả năng thanh toán nợ nhưng không chịu thanh toán nợ sẽ bị truy cứu trách nhiệm dân sự. Hơn thế, nếu người đi vay lợi dụng hình thức hợp đồng và dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản người khác sẽ bị truy cứu và có những hình thức xử phạt nghiêm khắc. Cụ thể hình thức xử phạt được quy định rõ tại khoản 1 điều 175 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự năm 2017 được chúng tôi tóm tắt lại như sau:

  • Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng sẽ bị phạt phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm hoặc cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Đối với trường hợp với giá trị dưới 4 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xoá án mà vẫn tiếp tục vi phạm thì cũng bị áp dụng mức phạt này.
  • Tội phạm sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc một trong các đối tượng sau: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Tái phạm nguy hiểm.
  • Nếu giá trị chiếm đoạt từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội sẽ bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
  • Phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
  • Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu tài sản.

Trường hợp thứ hai: không có khả năng trả nợ

Người không có khả năng trả nợ là người đến kỳ hạn thanh toán nợ nhưng không thể thanh toán nợ do không còn bất kỳ tài sản có giá trị nào. Việc không còn bất kỳ tài sản nào cần phải được chứng minh rõ ràng thì mới được công nhận là người không có khả năng trả nợ.


Không có khả năng trả nợ thì ai sẽ chịu rủi ro?

Như vậy,nếu như người đi vay tiền không trả tiền đúng thời hạn do không có đủ khả năng trả nợ thì người chịu rủi ro sẽ là bên nào?

Theo quy định tại khoản 1 điều 466 Luật dân sự 2015 như sau: “Bên đi vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến kỳ hạn thanh toán; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ khi có thỏa thuận khác”.

Theo quy định tại khoản 2 điều 351 Luật dân sự 2015 về Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ như sau: “Trường hợp bên có nghĩa vụ thực hiện sai nghĩa vụ vì lý do bất khả kháng thì sẽ không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ những trường hợp có thỏa thuận khác hoặc bên pháp luật có quy định khác.”

Như vậy, người đi vay là người có nghĩa vụ phải trả nợ cho người có quyền là chủ nợ. Nếu người đi vay không trả tiền cho chủ nợ thì sẽ bị vi phạm nghĩa vụ dân sự. Nhưng nếu như người đi vay chứng minh được rằng không còn bất kỳ tài sản nào như đất đai, nhà cửa, xe cộ, tiền gửi tiết kiệm…đều không có tức là việc không có tiền trả nợ là sự việc bất khả kháng thì người đi vay sẽ không phải chịu bất kỳ trách nhiệm dân sự nào.

Lúc này, người cho vay tiền sẽ phải chịu hoàn toàn rủi ro, và bên cho vay bắt buộc phải chờ đợi đến khi nào bên vay có tiền thì mới có thể nhận lại được số tiền đã cho vay. Vì vậy để tránh rủi ro, các tổ chức tín dụng hay ngân hàng đều phải kiểm tra kỹ lưỡng khả năng thanh toán nợ của người vay rồi mới đưa đến quyết định có cho khách hàng vay hay không. Tuy nhiên tình huống này vẫn thường xảy ra đối với những trường hợp vay vốn để kinh doanh nhưng làm ăn thua lỗ, bại sản.

Như vậy, vay tiền không trả phạm tội gì đã được chúng tôi giải đáp qua nội dung trên. Mong rằng nếu bạn đang có suy nghĩ vay tiền mà không trả thì hãy dừng ngay ý định đó bởi chắc chắn rằng bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm dân sự và một khi đã dính tới pháp luật thì mọi chuyện sẽ chẳng bao giờ là dễ dàng.